Chư phiên chí của Triệu Nhữ Quát (1170 - 1231), từng làm đến chức Đề cử Thị bạc ti ở Phúc Kiến, Tuyền Châu thời nhà Tống, là một tác phẩm điển hình. Bản tiếng Việt vừa ra mắt do Trần Trọng Hải Minh dịch và chú thích, Phạm Hoàng Quân hiệu đính .
Một phả hệ sử liệu
Như trong Lời giới thiệu của nhà nghiên cứu Phạm Hoàng Quân, người đọc có thể nhận ra vị trí quan trọng của Chư phiên chí trong phả hệ sử liệu quý mà người Trung Hoa xưa ghi chép về thế giới bên ngoài.
Chư phiên chí (諸蕃志), nghĩa là "Ghi chép về các phiên quốc". "Phiên quốc" ở đây thể hiện lối tư duy bá quyền của nhóm tinh hoa và chính giới Trung Hoa (thuyết "Hoa tâm"), xem các nước hay lãnh địa chung quanh là "phiên thuộc". Đương nhiên, sự tự huyễn đó ngày càng vô nghĩa trong diễn trình lịch sử thế giới hiện đại. Ngay trong Lời giới thiệu cuốn Chư phiên chí, Phạm Hoàng Quân đề xuất một cách hiểu/diễn giải khoa học hơn rằng cuốn sách này là "Ghi chép về các nước bên ngoài Trung Hoa thời Tống".
Chư phiên chí do Phanbook & NXB Đà Nẵng ấn hành
Ảnh: Nguyễn Vĩnh Nguyên
Kho tàng các bản văn người Trung Hoa ghi chép về "các nước bên ngoài" rất phong phú. Có thể tìm thấy chất liệu đó rải rác trong các cuốn sử quan trọng như Sử ký (Tư Mã Thiên), Hán thư (Ban Cố), Thông điển (Đỗ Hựu), Thông chí (Trịnh Tiều), Văn hiến thông khảo (Mã Đoan Lâm)... Bên cạnh dòng chính sử, còn có các trước tác du ký về những vùng lãnh địa, đất nước khác với nhiều mục đích khác nhau, từ văn chương, bút ký tăng nhân đến khám phá thực địa, thương mại, ví dụ: Phù Nam truyện (của Khang Thái), Nam châu dị vật chí (Vạn Chấn), Dị vật chí (Dương Phu), Phật quốc ký (Pháp Hiển), Nam Hải ký quy (Nghĩa Tịnh), Đại Đường Tây vực ký (Huyền Trang Đường Tam Tạng)...
Cũng theo nhà nghiên cứu Phạm Hoàng Quân, văn bản Chư phiên chí được "hình thành trên một nền tảng lâu đời" và "nghiễm nhiên trở thành một trong những tựa sách rất cần thiết trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu như lịch sử địa chính trị, lịch sử thương mại hàng hải, lịch sử quan hệ quốc tế…". Ông cũng cho rằng loại sách này, trước đó còn có Lãnh ngoại đại đáp (Chu Khứ Phi soạn, 1178) sau đó có Đảo di chí lược (Uông Đại Uyên, 1349), Thù vực Chu tư lục (Nghiêm Tòng Giản, 1574), Đông Tây dương khảo (Trương Tiếp, 1617) hay các sách được viết trong những chuyến hải trình của Trịnh Hòa: Doanh nhai thắng lãm (Mã Hoan, từ 1416 - 1430), Tây Dương phiên quốc chí (Củng Trân, năm 1434), Tinh sai thắng lãm (Phí Tín, năm 1436)...
Chư phiên chí kế thừa chắt lọc từ những pho sử liệu trước đó, rồi bản thân nó cũng có những thu thập mới mẻ, làm nền tảng tham chiếu cho các tác phẩm về sau.
Những ghi chép hữu ích
Triệu Nhữ Quát có thể đã viết cuốn sách trong giai đoạn ông quản trách ở Thị bạc ti (theo người hiệu đính, thì chức ấy như Tổng cục trưởng hải quan ngày nay). Nhờ đó, ông tiếp xúc nhiều thương nhân, nhà du hành, hiểu rõ sản vật từ nhiều vùng miền hải ngoại đi vào Trung Hoa qua mạng lưới lưu thông giữa nhà Tống với thế giới bên ngoài. Vì thế cuốn sách có nhiều chất liệu độc đáo, cô đọng nhưng sống động có thể giúp thương nhân trong và ngoài Trung Hoa thời bấy giờ có một "tấm bản đồ" hữu ích trên con đường giao thương.
Có thể nhắc đến những thuyết minh cô đọng nhưng sống động về các quốc gia, lãnh địa cận Trung Hoa như Đại Việt, Chiêm Thành, Chân Lạp, Đồ Bà (Java), Thiên Trúc (Ấn Độ), Tân La (một trong Tam quốc Triều Tiên), Oa Quốc (Nhật Bản), và xa hơn, là những nước ở Trung, Tây Á hoặc có mối liên đới với La Mã (Rome): Bạch Đạt (Baghdad), Át Căn Đà (Alexandria), Úng Man (Oman), Đại Thực (Ả Rập), Vật Tư Lý (Ai Cập) đến Đế quốc Đông La Mã Byzantium...
Mỗi một trang chính văn tác phẩm thường đi kèm rất nhiều nội dung bổ chú, đối chiếu văn bản sử liệu trong tàng thư Trung Hoa hay các chú giải của những học giả như Hirth-Rockhill, Friendrich Hirth, Dương Bác Văn, Phùng Thừa Quân..., kể cả những gợi mở liên hệ với hôm nay. Qua quá trình dịch và chú cẩn trọng, dịch giả Trần Trọng Hải Minh đưa người đọc bước vào cuộc du hành có tính dị lãm, lý thú xuyên thời gian.
Sách có nhiều chuyện kỳ thú: người Chiêm Thành, Phù Nam nếu kiện tụng vu hại nhau thì quan không cần xét, chỉ cần cho đi qua hào thành đầy cá sấu, ai sống sót thì đó là người ngay chính; một "nữ nhân quốc", nơi "phụ nữ làm vua và quan lại, nam giới chỉ làm quân sĩ" hay ngọn tháp ở Át Căn Đà (Alexandria) chứa được
2 vạn người, lòng tháp có giếng đào thông với sông Nile, đỉnh tháp có tấm gương lớn để phát hiện lực lượng đột nhập mà kịp thời phòng thủ... Và nhiều, rất nhiều những chuyện thú vị về phong tục, tập quán, sinh hoạt triều chính của mỗi một xứ sở được ghi lại. Phần viết về sản vật quý và nguồn gốc của chúng cũng là những ghi nhận đáng lưu tâm, ví dụ: trầm hương, xạ hương mộc xuất xứ từ Chiêm Thành, Chân Lạp; huyết rồng, nhũ hương, nước hoa hồng (tường vi thủy) xuất phát từ Đại Thực; long não đến từ nước Bột Nê (Borneo)...
Với học giới nghiên cứu biển đảo Việt Nam, thì Chư phiên chí không phải xa lạ. Chương viết về Hải Nam được xem là một trong những dẫn chứng cho thấy từ thời Hán (111 TCN), vùng biển nguy hiểm được cho là Hoàng Sa (có "bãi cát dài nghìn dặm, bãi đá rộng vạn dặm [vạn lý thạch sàng], mịt mù mênh mang không thấy bến bờ, trời nước một màu") không thuộc về Trung Hoa.
Một văn bản cổ xưa nhưng là nguồn sử liệu quý giá cho hôm nay.
Nguồn: https://thanhnien.vn/chuyen-van-dam-cua-nghin-xua-185250829232211227.htm
Bình luận (0)